Showing posts with label tulieu. Show all posts
Showing posts with label tulieu. Show all posts

Wednesday, 1 April 2009

Chủ nghĩa thực dân mới mang đặc sắc Trung Quốc (April 02, 2009)

La Chine mélange le riz avec le néo-colonialisme

Lorsque la Chine, l’un des pays les plus corrompus dans le monde, commence à distribuer des milliards de dollars en forme d’aide et de contrats d’affaires en Afrique, continent le plus corrompu du monde, les alarmes sonnent à Washington et dans d’autres capitales occidentales. Le fait que la Chine tourne un oeil aveugle envers les abus très répandus de droits de l’Homme dans ce continent intensifie encore plus les inquiétudes de l’Occident.

Sécuriser l’approvisionnement du pétrole constitue la principale raison pour l’agressivité de la Chine pour développer ses liens économiques avec l’Afrique. Afin d’alimenter sa croissance économique phénoménale qui a fait une moyenne annuelle de plus de 9% ces 20 dernières années, la Chine a besoin de pétrole ainsi que de matières premières. N’étant pas riche en réserves pétrolières, la Chine est devenue de plus en plus dépendante du pétrole importé.

Entre temps, l’Afrique abrite 8% des réserves mondiales de pétrole, ce qui incite la Chine à dépenser des milliards de dollars dans le but d’obtenir les droits de forage au Nigeria, au Soudan et en Angola tout en négociant des contrats d’exploration avec le Tchad, le Gabon, la Mauritanie, le Kenya, la Guinée Equatoriale et la République du Congo. Le continent représente actuellement 25% des importations pétrolières de la Chine. Par contre, les Chinois sont aussi les investisseurs principaux dans l’industrie de cuivre en Zambie et dans la République Démocratique du Congo. De plus, ils sont en train d’acheter du bois au Mozambique, au Liberia, au Gabon, au Cameroun et en Guinée Equatoriale.

En échange de l’énergie, des ressources minérales et d’autres matières premières, la Chine fournit l’aide et l’assistance technique en offrant des prêts sans intérêt aux gouvernements africains qui sont très adaptés aux besoins des affaires. En même temps, les compagnies chinoises ont gagné des contrats pour construire des autoroutes, des pipelines, des barrages hydroélectriques, des hôpitaux, des stades et pour moderniser des chemins de fer, des ports et des aéroports. Dès qu’il y a des endroits où les compagnies occidentales ont peur des faibles marges bénéficiaires ou des préoccupations environnementales ou politiques, les chinois s’y lancent. Les compagnies publiques de Chine sont capables de mettre les bénéfices à court terme de côté en se concentrant sur les plans économiques à long terme du gouvernement.

Quant aux scrupules environnementales et politiques, les dirigeants chinois ont fait comprendre qu’ils n’en ont pas beaucoup. Ainsi, l’approche sans condition pour faire les affaires en Afrique est en contradiction flagrante avec les soucis de l’Occident à l’égard du développement démocratique et du respect pour les droits de l’Homme. L’offre est clair : en échange des matières premières sécurisées nécessaires pour alimenter son économie vorace, la Chine ne s’ingérera pas dans les affaires internes des gouvernements africains, même si ces gouvernements sont connus pour leur corruption endémique et pour leurs abus des droits de l’Homme.

L’élite dirigeante de l’Afrique est également contente lorsque les Chinois pompent de l’argent et des marchandises bon marchées dans leurs économies sans poser aucune pression à propos de la démocratie et des droits de l’Homme qu’ils se sont habitués à entendre des partenaires occidentaux. Grâce à la Chine, la demande du pétrole, du cuivre et du platine africains augmente alors que toutes les choses fabriquées en Chine allant des tee-shirts aux ustensiles en passant par des motos sont en vente libre partout dans le continent aux prix beaucoup plus bas que ceux et celles importés d’ailleurs.

Certainement, les dirigeants africains comme Robert Mugabe du Zimbabwe et Omar Hasan Ahmad al-Bashir du Soudan sont reconnaissants à la Chine pour sa promesse d’un partenariat égal avec leurs nations. Au Soudan, Pékin est l’un des fournisseurs d’armes les plus importants de Bashir. La Chine a soutenu la résistance du président à l’encontre du stationnement des troupes de maintien de la paix dans la région du Darfour, là où les Etats-Unis ont accusé le génocide autorisé par le gouvernement d’avoir tué des centaines de milliers de personnes. L’appui chinois n’a étonné personne compte tenu du fait que plus de la moitié des exportations pétrolières du Soudan vont en Chine. En tout, le Soudan représente 5% du pétrole consommé par la Chine.

Les relations de la Chine avec les nations telles que le Soudan font craindre les officiels à Washington que l’investissement chinois ne puisse être utilisé, soit directement soit indirectement, pour soutenir les terroristes. Pour Pékin, cela montre juste un autre exemple de la pensée alarmiste de la Maison Blanche qui est apparemment déterminée de contenir l’essor de la Chine comme puissance mondiale.

Tandis que les dirigeants chinois et africains arrosent ce que Pékin qualifie d’une relation « à double gagnant », les africains moyens ne pourraient pas être tellement ravis. Dans un continent où près de la moitié de la population vit de moins d’un dollar par habitant par jour, une voiture ou un climatiseur bon marché, ou même un nouveau tee-shirt reste encore hors de portée des personnes ordinaires.

C’est vrai que les Africains ont besoin d’emplois. Bien qu’il n’y ait pas de question que les projets chinois ont créé des emplois dans certains endroits, ils ont évidemment fait perdre des emplois dans d’autres. Par exemple, en Afrique du sud et au Lesotho, on reproche la perte de dizaines de milliers d’emplois locaux dans l’industrie textile aux importations moins chères de Chine, alors la Chine a insisté sur l’embauche de travailleurs chinois dans les projets de rénovation des chemins de fer en Angola.

Bien que la politique africaine de Chine ait gagné les coeurs et les cerveaux des dirigeants du continent, le peuple africain traîne bien derrière ces « élites ». Le peuple attend de voir si le modèle d’engagement avec le continent sera différent de celui des puissances coloniales d’exploitation dans le passé.

Jusqu’ici, avec la Chine utilisant le continent comme une source de matières premières et comme un dépotoir pour ses propres biens manufacturés, la formule semble pareille.

(TMH, d’après Asia Times)

Saturday, 28 March 2009

Về những giọng ca nam của Việt Nam( March 29, 2009)

Clip minh họa: AC&M hát Anh vẫn hành quân của Huy Du. Băng tư liệu Con đường Âm nhạc số 18- Chân dung nhạc sỹ Huy Du.

Trao đổi với anh Trần Thanh Tú* về giọng hát của các nam ca sỹ Việt Nam:

1. Thôi thì mấy ông Trần Thụ, Mai Khanh, Quốc Hương, Trần Khánh,Trung Kiên, Quý Dương, Kiều Hưng, Trần Hiếu thì anh em mình sẽ chuyển sang bình luận về cảm thụ sau vì mức độ phổ cập trong danh tiếng của họ cũng khá cao... Nhưng chưa thấy anh nói về Tiến Thành, một người cùng thời với anh. Em gọi Tiến Thành là “Nghệ sỹ đặc biệt” trong phân loại tư liệu của các ca sỹ trong bộ sưu tập của em. Em có một bài khá dài trên blog về Tiến Thành, nhưng chủ yếu là dựa vào trí nhớ chắp ghép của em… Nhóm Tiến Thành, Huy Hùng, Đăng Khoa, Hữu Nội rất hay hát cùng nhau. Dù cho phần lớn các bài đồng ca của Đài không có giới thiệu từng ca sỹ, nhưng em có thể tách giọng từng người ra một. Giọng ông Đăng Khoa hơi xù xì, thô ráp nhưng có sức hút kỳ lạ. Huy Hùng có lúc hơi nhạt, nhưng em thấy giọng hát rất trẻ và tình tứ. Cũng là người Hải Phòng anh nhỉ. Ông Hữu Nội thì nhìn hình thức đúng là một ông nghiện, nhưng giọng nam cao của ông ý ở Việt Nam hiếm thật. Trong dàn hợp xướng giọng ông ý át tất cả các giọng khác ... Đặc trưng vibrato của Hữu Nội theo em là “phép rung” chứ không phải “tật rung” như Lê Dung đời đầu anh nhỉ J. Doãn Tần thì anh có nói qua và nhiều người biết. Nhưng cùng kiểu giọng như Doãn Tần em nhớ còn có Hoàng Chè. Lần làm chương trình 50 Điện Biên Phủ em có gặp chú ấy, nhưng chả có dịp nói chuyện. Hoàng Chè có bài "... hỡi đồi cao A1 ... đến Điện Biên hôm nay lòng như say điệu hát. Có mùa hoa ban ở trên nẻo đường quê xa. Có tình yêu muôn thuở là Điện Biên quê ta" hay ghê. Mà em nhớ đọc ở đâu đó có nói Hoàng Chè là thanh niên Hà Nội thứ thiệt.

2. Có những giọng nam hiền lành như anh đã nói là Ngọc Tú. Ngoài bài Mời anh đến thăm quê tôi được dàn dựng, hòa âm rất hay em còn rất thích bài Cánh chim tuổi trẻ (Tạm biệt phố phường Hà Nội, tạm biệt những mái trường … ta đi tới những miền đất mới, ta mang sức trẻ của mùa xuân …). Ngày nay có Phạm Văn Giáp có giọng gần giống Ngọc Tú. Bên cạnh Ngọc Tú em thấy có Trung Bộ của Văn công QK2 cũng có giọng nam trung hiền lành như trong "Lim dim câu hát sông cầu". Ông Trung Bộ còn hát rất hay trong tốp ca của bài Tiếng đàn bên bờ sông biên giới của Phạm Tuyên (mà những năm 80 VTV sử dụng làm nhạc hiệu chương trình ca nhạc). Có giọng nam cũng hiền lành và hơi "mềm" là Minh Quang của TCCT. Minh Quang này em rất thích khi ông ấy hát Lá đỏ, Ta ra trận hôm nay. Minh Quang song ca với Lê Dung bài Củ Chi yêu thương rất hay và nhiều bài khác nữa. Sau này có Minh Quang trẻ trẻ nữa. Nhưng Minh Quang này giọng "mô phạm" giống kiểu Trần Tựa, Trọng Thủy là những chất giọng mà em không được thích cho lắm :) Hiền lành và hơi cứng nữa thì phải kể đến chú Mạnh Hưng nổi tiếng đẹp trai của TCCT. Trong các bài hát của chú này em chỉ lưu có 2 bài là Cửa biển chiều hôm của Huy Du và Thành phố tôi yêu của Phạm Đình Sáu viết về TPHCM (Đẹp mãi mùa xuân thành phố của tôi, rộn vang tiếng ca ngợi tên Bác Hồ, sức sống sinh sôi nhịp vui hối hả ...) Nhưng em thấy Ái Vân hát bài Thành phố tôi yêu tình tứ và thiết tha hơn nhiều. Ái Vân thu bài này cùng thời với 2 bài của Hoàng Dương là Matxcova một tình yêu và Mai em đi rồi.

3. Rồi còn Phan Huấn nữa. Phan Huấn cũng hiền hiền. Ông ấy có lẽ là người đầu tiên hát Hành khúc ngày và đêm của Phan Huỳnh Điểu. Trong bản nhạc mà Phan Huấn hát không có đoạn “Rất dài và rất xa …” mà thay vào đó là đoạn vocal “hò ơ ơ…”. Phan Huấn cũng là người đầu tiên hát Đàn Tơ-rưng (Nguyễn Viêm & Huy Cận: Anh bắc qua con suối, chiếc cầu phao âm thanh …) với đoạn giả thanh ở câu cuối rất điệu nghệ và đặc sắc. Một trong những tư liệu quý của em lại chính là bài Tình ta biển bạc đồng xanh của Hoàng Sông Hương (tư liệu viết là Rừng xanh) mà ông Phan Huấn song ca cùng Tuyết Thanh. Bài hát này vốn dĩ rất hay, nhưng không hiểu sao VOV không cho lưu hành, tới mức gần đây khi Việt Hoàn, Anh Thơ và một số cặp song ca trẻ khác cover lại thì nhiều người mới biết là có bài hát này. Có người nói, bài này cũng giống như bài Tâm tình người thủy thủ của Đức Minh có hơi hướng nhạc vàng, tiểu tư sản thế nào đó nên ngày xưa bị cấm (!)

4. Bên cạnh mấy giọng nam hiền lành đó thì em còn rất thích những giọng nam khỏe khoắn, rắn chắc kiểu cổ điển, như là Quang Phác trong Hò biển mà anh đã kể sơ qua. Từa tựa như Quang Phác em thấy có Huy Giảng trong Bài ca bên cánh võng, Chiếc ba lô và bài ca tình nguyện, Hãy cho tôi lên đường … Bật hẳn lên trong nhóm này em nghĩ là Quang Hưng. Từ “hào sảng” và “lạc quan” có lẽ là hai từ rất trúng để nói về giọng hát Quang Hưng. Nó khác với “hào sảng” nhưng lại “bi tráng”, “kịch tính” và có khi “u uất” trong giọng hát của Trần Khánh.

5. Tổng hòa các vẻ đẹp của nhiều giọng nam phải kể đến Dương Minh Đức. Theo em đây là một trường hợp đặc biệt. Giọng Dương Minh Đức vừa kinh viện lại vừa trẻ trung. Rất nam tính và lại rất mềm mai, uyển chuyển. Về quãng giọng chắc sánh ngang với Trung Kiên nhưng Dương Minh Đức lại không hát gắt như Trung Kiên. Giọng Dương Minh Đức rất bay nhưng lại không bị mảnh và mái như Doãn Tần, Hoàng Chè, không chói như Hữu Nội. Dương Minh Đức hoàn hảo trong Như sóng về trùng dương của Hoàng Dương hay Nhựa bạch dương (nhạc Liên Xô). Những bài hát gắn chặt với tên tuổi Dương Minh Đức còn phải kể đến Rừng chiều của Vũ Thanh, Tôi là người thợ của Phan Thanh Nam, Hát về Tổ quốc tôi của Hữu Xuân. Bài Sa Pa thành phố trong sương hay nhất thì phải kể đến bản thu giọng hát của Ngọc Khuê (tác giả của Mùa xuân làng lúa làng hoa) với dàn nhạc dây của Đài VOV. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thích bản của Dương Minh Đức hơn với lập luận rằng Dương Minh Đức làm toát lên được cái huyền ảo, cái mênh mang của một thành phố trong sương. Bài hát này nằm trong số các ca khúc thời chiến tranh biên giới với Trung Quốc, nhưng không hề có không khí chiến tranh. Có những bài hát gắn liền với tên tuổi của một ca sỹ. Và do đó bất kỳ ca sỹ nào hát sau đó đều được coi là liều lĩnh và khó thành công. Chẳng hạn như Quỳnh Liên và Ngọc Minh không thể cạnh tranh với Thanh Hoa trong Mùa xuân làng lúa làng hoa; Trung Anh lại càng không bao giờ làm được việc đó. Thế nhưng điều này không xảy ra với Dương Minh Đức. Bác Hồ một tình yêu bao la do Dương Minh Đức tồn tại rất chững chạc bên cạnh phiên bản đỉnh cao của Thanh Hoa. Chiều trên bến cảng của Dương Minh Đức cũng không hề bị lu mờ trước tên tuổi của Ngọc Tân… Tuy nhiên, giống như đồng nghiệp nữ của mình là Kim Phúc, giọng Dương Minh Đức ngày nay không còn được như xưa. Thậm chí nhiều người không nhận ra được Dương Minh Đức ngày xưa nếu chỉ quen với giọng hát hiện nay của ông phó hiệu trưởng nhạc viện Quân đội này.

6. Giọng nam trầm của Việt Nam hiếm anh nhỉ? Nếu liệt kê ra thì em chỉ biết có Trần Hiếu và Quang Huy. Trần Hiếu thu ở Đài VOV không nhiều đâu. Em chỉ sưu tập được chưa đến 10 bài, trong đó em thích nhất là “Những viên đạn trao từ đôi mắt” (hay Những đôi mắt mang hình viên đạn). Trần Hiếu hát Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người với dàn nhạc dân tộc pha với dàn nhạc dây rất hay. Đúng là em có nhiều bản, trong đó có 5 bản đỉnh, một của Kiều Hưng, một của Trung Kiên, một của Bích Liên, một của Tuyết Thanh và một của Trần Hiếu thì mỗi bản đều có một cái hay riêng. Ông Trần Hiếu còn thu Hành khúc ngày và đêm, trong đó có một đoạn hát nói rất hay. Còn Quang Huy thì em cực thích bài Đường Trường Sơn xe anh qua. Phải nói bài này hay vì một lý do rất quan trọng là phần phối khí quá hay, tiếng contrebasse sử dụng rất hiệu quả. Quý Dương thu bài này trước Quang Huy, phần phối khí bằng dàn nhạc dây cũng rất hay nhưng có vẻ bản của Quý Dương ít người biết đến hơn. Quang Huy còn hát nhiều bài nổi tiếng khác như Bên lăng Bác Hồ, Lướt sóng ra khơi. Nhưng quả thật em thấy giọng bass của Quang Huy già quá. Nhiều lúc em thấy nó hơi tối. Mà đồng chí Quang Huy này có vẻ cũng là một trong những nam nhân của làng ca nhạc thời đó. Em thấy rất hay song ca cùng Ái Vân.

7. Công nhận mấy ông “Quang” của mảng ca khúc đều “sáng” thật. Ở trên em nói đến Quang Phác, Quang Hưng, rồi Quang Huy. Còn phải kể đến Quang Mạo nữa chứ. Hồi Đoàn Ca nhạc nhẹ Trung ương của Trần Bình làm các Gala và Nhạc hội những năm đầu 90, em nhớ có bài báo giật tít là trong đêm Nhạc hội vừa qua “cả 3 Quang đều tỏa sáng”. Một Quang trong đó là Quang Mạo. Hình như Quang Mạo là người nhà của Ngọc Lan nhạc viện thì phải. Ngày xưa em đọc báo Hà Nội mới thấy nói thế. Quang Mạo dẫn dẵt cho Ngọc Lan vào Nhà hát nhạc vũ kịch hay sao đó. Về Ngọc Lan chắc em sẽ nói tới trong một dịp khác vì hôm nay chúng ta nói về các nam ca sỹ. Nhưng dù sao em cũng nói luôn là mấy cô giáo thanh nhạc “nổi tiếng” hiện nay như Ngọc Lan, Hà Thủy… đều không có tác phẩm để đời trong VOV. Họ hát mấy bài trong VOV đuối lắm…

8. Quang thứ 2 mà bài báo nói đến là Quang Huy thì em đã nói rồi. Còn Quang thứ 3 chính là Quang Thọ. Nói đến Quang Thọ thì em lại phải trở lại với đặc điểm giống Trần Hiếu là Quang Thọ cũng rất có ít bài thu âm tại VOV. Hình như những năm 70, 80, Quang Thọ chả có tên tuổi gì cả, hoặc là ông ấy còn ở văn nghệ quần chúng, còn ở địa phương. Em tuyệt nhiên không tìm được bản thu âm nào của Quang Thọ lúc trẻ. Đến Đức Long, cũng là người Quảng Ninh, mà em còn tìm được bản thu năm 1979, khi đó tên là Đỗ Đắc Long (không biết các kỹ thuật viên có ghi nhầm tên không, nhưng giọng thì đúng là của Đức Long). Nhưng với Quang Thọ em chỉ tìm được các bản thu sau này. Và em cũng chỉ lưu hai bản là Vang mãi bản tình ca của Trọng Bằng và Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam là hai bản mà em rất “chịu” Quang Thọ. Còn thực ra em không khoái giọng Quang Thọ lắm đâu vì em thấy chú ấy cứ ngậm miệng lại, tiếng hát nó trở nên không khoáng đạt.

9. Cũng là nghệ sỹ nhân dân nhưng rất ít bản thu trong hai thập kỷ 70 và 80 tại Đài là đồng hương của em, và cũng là đồng hương của bà Thương Huyền, đó là Trung Đức. Trong “thời xa vắng” của nhạc VOV, em tìm được mỗi một bản của Trung Đức là Hò biển. Giọng vang, sâu và bay lắm, chứ không bị gân guốc như gần đây. Nhưng bù lại sự thiếu hụt thuở xưa, Trung Đức thu âm khá nhiều trong những năm cuối 80 và đầu 90. Nhưng em lại xếp những bản thu đó vào nhóm “Nhạc trẻ thập niên 80-90” chứ không phải nhóm “Kinh điển Việt Nam” trong tổ chức bộ sưu tập của em. Phải công nhận loạt bài thời đó của Trung Đức thực sự khiến chú ấy là sao của bầu trời ca nhạc Việt Nam khi đó, nhất là trên truyền hình, cùng với Thanh Hoa, Thu Hiền là những người có tần số xuất hiện trên truyền hình vào hàng số một. Những tác phẩm để đời của Trung Đức phải là Thì thầm với dòng sông, Đi tìm câu hát lý thương nhau, Hoa bằng lăng, Biển hát chiều nay… Nhưng em nghe nói, cũng như Mạnh Hà, thậm chí cả Lê Dung, Trung Đức rất khổ sở về nhịp. Như thế là sao nhỉ? Như thế thì có lẽ họ nên hát với piano anh nhỉ?

10. Thời kỳ Trung Đức oanh tạc ở miền Bắc và trên truyền hình thì em nhớ là ở miền Nam có Quang Lý, Thế Hiển, Lê Hành rất sáng. Lê Hành tất nhiên có Con kênh ta đào được em xếp vào nhạc kinh điển. Nhưng chủ yếu, cũng như Trung Đức, em xếp các bài hát của mấy vị này vào phần nhạc trẻ. Sau này thì thấy rằng, nói một cách thật chính xác thì họ là thế hệ chuyển tiếp, là cái gạch nối giữa kinh điển và nhạc trẻ. Thời kỳ của họ đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong tính “nhất nguyên” trong đời sống âm nhạc Việt Nam trước khi chúng ta chuyển sang thời kỳ “tam giáo đồng nguyên” trong đó nhạc đỏ, vàng, xanh cùng tồn tại, cùng phát triển mà em sẽ bàn với anh trong dịp khác… Quang Lý sau này em không thích lắm, giọng giống Ngọc Tân lúc về già, tức là mũi bị sao đó, nhưng không sáng bằng Ngọc Tân. Tuy nhiên Quang Lý hát Thuyền và Biển và đoạt giải 3 trong cuộc thi đơn ca chuyên nghiệp toàn quốc năm 88 thì thật là không ai bằng. Thế Hiển năm đó hát Đất nước, Chuyện ngày xưa chuyện ngày nay, Cây đàn ghita của Lorica cũng trở thành những bài đóng đinh trên sóng VOV cho tới nay. Vì Lê Hành hát một bài hit thời kỳ đó là Một rừng cây một đời người mà em xếp chú ấy vào nhóm nhạc trẻ 80-90!

11. Thật lạ là sau lớp Trung Đức, Quang Lý thì chúng ta bị gián đoạn một thời gian, không có gương mặt nào sáng bật lên. Nói đúng ra thì lớp sau phải kém lớp Trung Đức, Quang Lý 10, 15 tuổi. Hồi đó thì nhạc trẻ miền Nam và Hải Đăng nổi quá rồi với Ngọc Sơn (Chiếc vòng cầu hôn), Thanh Nam (Câu chuyện nhỏ của tôi), Anh Duy (Thuyền và biển), Đỗ Hữu Xuân (Trở về dòng sông tuổi thơ)... Hay dòng nhạc Phú Quang, Dương Thụ, Trần Tiến nổi lên làm nổi danh Thanh Long bass, hay Nguyễn Hoàng với Tùy hứng lý qua cầu. Nhưng đó là nhạc trẻ và toàn là ở phương Nam. Còn nhạc đỏ thì cũng chính các nam ca sỹ ở miền Nam mới chiếm lĩnh thị trường. Đó chính là phong trào các ca sỹ miền Nam hát nhạc đỏ với đầy đủ những Lệ Thu (Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây), còn nam ca sỹ thì có Thế Sơn (cover lại Lá đỏ, Ngọn đèn đứng gác) hay Quang Bình (Trang Thanh Lan), thậm chí cả Nguyễn Hưng … Nhưng đó cũng là kiểu hát nhạc đỏ mà em mãi không làm quen và chấp nhận được. Điều em muốn nói ở đây là lúc này ở miền bắc các nam ca sỹ trẻ thật sự là thiếu. Minh Thắng có thấp thoáng xuất hiện ở Đoàn ca nhạc nhẹ trung ương với mấy bài, như Thuyền và biển (Hữu Xuân) hay Điều giản dị, Mùa xuân tương lai nhưng sau đó biến mất hoàn toàn. Quang Vinh thì không hẳn là ca sỹ. Bên Nhà hát Tuổi trẻ thì Hồng Kỳ, Thanh Tùng bắt đầu lo chạy theo nhạc trẻ của thị trường. Phải đến 93, 94 Tấn Minh mới xuất hiện nhưng chủ yếu là kiểu ca sỹ học trò và không xác định được rõ thế mạnh. Cũng trong thời kỳ xuất hiện Tấn Minh thì khán thính giả rất có cảm tình với các sinh viên của Trường Văn hóa nghệ thuật quân đội với các gương mặt như Ngọc Lê, Hồng Hải, Minh Hoa, Hương Mơ. Nam thì có Thế Vũ, Hồ Tùng. Hồ Tùng sau này vì mắc bạo bệnh nên sức khỏe suy sụp, có thời em thấy chuyển sang dạy hát trên VOV. Thế Vũ khá sáng sủa, có lúc được liệt vào cùng thứ hạng với Thanh Lam, Mỹ Linh … nhưng lúc về Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam của Tiến Định lại không phát huy mấy. Anh này giờ đã chuyển sang kinh doan … Rõ ràng đây là thời kỳ tranh tối tranh sáng trong mảng ca khúc ở Việt Nam mà trong đó phần nhạc kinh điển bị lép vế, các nam ca sỹ bị xuống hạng.

12. Chắc sẽ có một dịp anh sẽ kể cho em nghe về các ca sỹ của phong trào “Khắp nơi ca hát”. Qua nói chuyện với anh thì em biết rằng Tuyết Minh, Chu Thanh Hương, hay Phương Nhung (thời kỳ đầu) là những người như vậy. Còn thời của em thì em biết đến Quỳnh Liên, Tuyết Tuyết, Minh Châu, Quỳnh Hoa (hơi đuối hơn) … Rõ ràng nghe họ hát thì không thể phân biệt được chuyên hay không chuyên, càng không thể gọi họ là dân nghiệp dư. Có lẽ ở đây chuyên hay không chuyên chỉ là nói đến họ có qua trường lớp chính quy hay không mà thôi. Trong nghệ thuật thì trường lớp không phải là yếu tố quyết định tất cả. Còn nói dến các nam ca sỹ không chuyên thì em biết Đức Diên qua Một thoáng Tây Hồ, Mỗi bước ta đi thêm yêu Tổ quốc. Anh này năm kia còn xuất hiện để bình luận về các Sao Mai dòng thính phòng và dân gian. Nhưng theo em “hiện tượng” trong phong trào “Khắp nơi ca hát” phải là Tốp nam nhà máy toa xe Hải Phòng. Hình như ông Huy Túc là từ đây mà ra? Có lẽ phải gọi họ là một đoàn ca nhạc chuyên nghiệp mới đúng. Cứ nghe họ hát Đêm Trường Sơn nhớ bác, Đường tàu mùa xuân, Ta ra trận hôm nay … thì có lẽ chỉ có AC&M hiện nay nếu chưa tan rã mới có thể cover lại được J

Thôi nói tới AC&M là phải nói đến thế hệ trẻ sau này rất lâu rồi. Em sẽ trở lại và hầu chuyện anh về “hình sin” trong đồ thị âm nhạc Việt Nam vào lần sau, trong đó có sự hồi sinh của dòng nhạc kinh điển sau đỉnh cao và bão hòa của nhạc trẻ Việt Nam. Còn bây giờ chúng ta nghe AC&M hát Anh vẫn hành quân của Huy Du. Băng tư liệu này lấy từ Live show Con đường Âm nhạc số 18- Chân dung nhạc sỹ Huy Du.

---

* Trần Thanh Tú: Bạn diễn trong những năm 80's của các ca sỹ Ái Vân, Lệ Quyên, Họa Mi, Thanh Lam... Là học trò của Quý Dương, Diệu Thúy. Anh Tú từng là giám khảo chấm Hồng Nhung trong một cuộc thi năm 1987

Saturday, 14 February 2009

Chiến tranh biên giới qua ca khúc Việt Nam (February 15, 2009)



Khi nổ ra các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cách đây hơn 1 năm, nhiều bạn đề nghị tôi giới thiệu lại các bài hát của thời kỳ chiến tranh biên giới Việt- Trung mà các bạn ấy biết là tôi giữ lại gần như trọn vẹn trong bộ sưu tập cá nhân. Những ngày này, khi gần tới ngày 17 tháng 2, nhiều bạn lại hỏi tôi về « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới », rồi « Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận » v.v. Tôi rất cảm kích sự yêu mến mà các bạn, cũng như tôi, dành cho nền âm nhạc cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Tôi cũng hiểu cả sự tò mò của nhiều bạn nữa, một sự tò mò rất tự nhiên, hợp tình, hợp lý muốn được nghe thử, được tìm hiểu các ca khúc một thời khuấy động cả dân nhưng rồi sau đó lại chỉ còn được biết đến qua tựa đề, qua một số câu hát không trọn lời, qua sự truyền miệng trong dân gian. Có bạn đã tò mò và háo hức được nghe tới mức đã tìm cách thu lén « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới » qua YM và sau đó phổ biến một clip âm thanh với chất lượng rất thấp trên rất nhiều diễn đàn mạng...

1. Trong bài Đất nước, Tạ Hữu Yên viết Mẹ Việt Nam « ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ ». Rất có thể con số 3 và số 2 ở đây là những con số có tính tượng trưng vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc mình, Mẹ Việt Nam đã nhiều hơn ba lần tiễn con đi và cũng nhiều lần khóc thầm lặng lẽ. Nhưng nếu đó là hình ảnh Mẹ Việt Nam của thế kỷ 20 thì lần thứ 3 Mẹ khóc chính là lúc những đứa con của Mẹ phải ra đi để bảo vệ những miền biên ải ở hai đầu đất nước. Nếu hình dung sự phát triển của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam như những đợt triều dâng thì đã có tới ba đợt triều cường trong thế kỷ 20. Nếu như đợt thứ nhất là của thế hệ của Điện Biên, của 9 năm, đợt thứ hai ứng với thế hệ của những « giải phóng quân xẻ dọc Trường Sơn » thì đợt thứ 3 chính là thế hệ của các nhạc sỹ, ca sỹ trưởng thành từ cuộc chiến đấu vì lý tưởng « độc lập, tự do » của cả dân tộc.

2. Ngày nay, bạn trẻ yêu nhạc cách mạng nào cũng có thể dễ dàng liệt kê hàng chục, thậm chí hàng trăm ca khúc ra đời trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng nếu có điều kiện nghe lại hoặc được cha anh kể chuyện, các bạn cũng có thể kể ra một con số ấn tượng các ca khúc ra đời giữa những ngày nóng bỏng nhất của « cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ ». Phải khẳng định ngay từ đầu rằng các ca khúc của thời kỳ chiến tranh biên giới- ca khúc chống bành trướng là một bộ phận không thể tách rời, trong kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nếu bỏ đi giai đoạn sáng tác này, dòng chảy của nền ca khúc nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung không còn liền mạch và trở nên thiếu tự nhiên. Được sáng tác trong một thời gian không dài, khoảng 3-4 năm và tập trung cao độ trong hai năm 1979 và 1980 với con số lên tới vài trăm bài hát, nhưng kho tàng ca khúc thời kỳ này có thể sánh ngang với nền ca khúc cách mạng của ba thập kỷ liền kề trước đó ở mọi phương diện. Đặc biệt, đó còn là những bản tráng ca cũng rực lửa hờn căm, ngập tràn hào khí. Một cách vắn tắt nhất, đây là một tượng đài hùng vĩ của nền ca khúc Việt Nam.

3. Các ca khúc của thời kỳ này đã được viết lên từ những thôi thúc của tinh thần dân tộc dâng cao tột độ, từ tình yêu đất nước cháy bỏng đã trở thành truyền thống của cả dân tộc, và đặc biệt là từ tinh thần chống quân xâm lăng phương Bắc- một tinh thần được hun đúc từ hàng nghìn năm qua và đã trở thành một thứ tình cảm thường trực, một thứ phản xạ của bản năng, một ý chí hiện hữu tự nhiên tựa như dòng máu chạy trong huyết quản của mỗi con dân đất Việt. Một yếu tố quan trọng nữa làm nên tầm vóc của các tác phẩm thanh nhạc thời kỳ này nằm ở chỗ, những năm cuối 70, đầu 80 là thời kỳ đỉnh cao trong kỹ thuật dàn dựng, phối khí, thu thanh của Đoàn ca nhạc và Ban biên tập âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam- một « pháo đài » của nền âm nhạc cách mạng và tuyên truyền được sinh ra, trưởng thành và rèn luyện trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trước đó, cũng như từ sự hỗ trợ của các nền âm nhạc lớn trong « phe » Xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả Trung Quốc ( !), để rồi sau đó trở thành cái nôi sản sinh ra các tác phẩm còn mãi với thời gian và các tên tuổi nghệ sỹ đi cùng năm tháng.

4. Nối tiếp truyền thống và mạch cảm xúc của ba thập kỷ trước đó, các ca khúc thời kỳ này tiếp tục là tấm gương phản ánh sinh động nhất của lịch sử. Mỗi bài hát là một chỉ dấu song hành với những diễn biến của lịch sử. Một cách không hề phóng đại, thay vì tìm và đọc lại các xã luận của Hoàng Tùng trên báo Nhân dân, thay vì tìm lại bản gốc của Hiến pháp 1980 hay các tuyên bố báo chí của Bộ Ngoại giao, thay vì đọc sách trắng về quan hệ Việt-Trung, người ta có thể tiếp cận lịch sử bằng cách nghe lại các ca khúc của thời kỳ này.

5. Đó là sự tái hiện bằng âm nhạc các trận bút chiến nảy lửa trong dư luận báo chí và chính giới, như trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Tấn và Nguyễn Mạnh Thường với giọng hát hào sảng, bừng bừng khí thế và đầy kịch tính của nghệ sỹ Quang Hưng :

« Giặc xâm lăng nói đất này đất của Trung Hoa bởi chứa trong lòng đất xương cốt ông cha đã chất chồng. Quân xâm lăng bay biết không ? Muốn tìm xương cốt cha ông, sao chỉ ở Hoàng Sa, đảo nhỏ quê ta, sóng dềnh, biển gào. Hãy đến Đông Đa, hay tới Chi Lăng, hay tới Bạch Đằng nơi bao hồn oan vất vưởng... Hãy đến đây, xương chất sẽ càng cao. Dù 50 vạn, hoặc nhiều hơn . Đụng đến Việt Nam thành đồng lũy thép, thế hiên ngang muôn thuở là mộ chôn lũ quân thù... » (Việt Nam muôn thuở mồ chôn quân thù- Nguyễn Mạnh Thường)

hay :

« Quên rồi chăng ? Những ngày cách mạng, những giải phóng quân vì Đảng hy sinh. Quên rồi chăng ? Giai cấp đấu tranh, khinh con hổ giấy giải phóng Đài Loan. Không ! Chúng không quên, chúng đâu có quên mà là bội phản. Quân phản bạn, phản dân. Hôm xưa chống Mỹ viện Triều. Hôm nay thân Mỹ đả Việt. A ha, vua Trụ, vua Việt đang sống lại hát Quốc tế ca. Thôi đi, im ngay đi !...Những người cầm quyền Trung Hoa đừng cuồng say trung cổ mà hãy nhớ lấy Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa... (Việt Nam không khuất phục- Nguyễn Đình Tấn)

6. Các ca khúc ấy đã bám chặt dòng chảy của thời sự. Nhiều ca khúc đã xuất hiện gần như ngay lập tức khi chiến tranh bùng nổ. Tiếng hát của dàn đồng ca vang dội hùng tráng trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam nhiều lần trong ngày có thể ví như các bản tin « breaking news » của CNN :

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới. Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới. Quân xâm lược bành trướng dã man đã giày xéo mảnh đất tiền phương. Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương. Đất nước của ngàn chiến công vẫn sục sôi khí thế hào hùng. Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa đang gọi tiếp thêm những bản hùng ca. Việt Nam, ôi nước Việt yêu thương. Lịch sử đã trao cho Người một sứ mạng thiêng liêng. Mang trên mình còn lắm vết thương, Người vẫn hiên ngang ra chiến trường. Vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người : Độc lập, Tự do ! (Phạm Tuyên)

7. Bên cạnh những bản tin thời sự với những bài xã luận đanh thép được thể hiện qua giọng đọc truyền cảm đặc biệt của các phát thanh viên danh tiếng Việt Khoa, Tuyết Mai, Hoàng Yến, Đài Tiếng nói Việt Nam đồng thời phát đi những ca khúc mang âm hưởng của lời Hịch tướng sĩ thở xưa. Những ca khúc ấy chất chứa lòng uất hận của những người thường dân vô tội, loạn ly trong cảnh chạy giặc. Cùng với cảm xúc ấy là lòng căm thù và quyết tâm thắng giặc của những đoàn quân ra trận :

« Đoàn quân vội đi, đi về biên giới. Cũng từ biên giới về những bầy trẻ nhỏ. Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé. Từng đôi mắt đen xoe tròn. Từng đôi mắt mang hình viên đạn. Ngàn đôi mắt như ngàn lời ước hẹn. Từng đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân. Người chiến sỹ hãy nhớ lấy. Bắn tan quân xâm lược dã man. » (Những viên đạn trao từ đôi mắt- Trần Tiến, giọng hát Trần Hiếu)

Hay như :

« Hành quân lên biên giới. Non sông ta kẻ thù xéo giày, trong tim ta hận thù chất đầy. Bọn Trung Quốc xâm lược ! Phải giữ lấy mỗi tấc đất để xứng với ngàn năm. Phải đánh cho chúng nhớ lấy chớ vào đây.Hào khí chiến đấu bất khuất chống ngoại xâm... » (Lê Mây, tốp nam hát, Tiến Thành lĩnh xướng)

Và bi tráng nhất từ giai điệu cho đến ca từ, phải kể đến Bài ca biên giới anh hùng của Nguyễn Đức Toàn :

« Nén đau thương, những bà mẹ lại tiễn con lên đường đi ra mặt trận, đi bảo vệ đất nước. Ta đánh cho tan bọn Trung Quốc hung nô xâm lược. Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trận tuyến bất khuất hiên ngang chặn bàn tay khát máu... Đi đánh cho tan bọn Trung Quốc man rợ. Với khí thế Bạch Đằng Giang hãy xông lên trút ngọn lửa hờn căm... » (Tiếng hát Đăng Khoa, Trung Kiên, Hữu Nội và tốp nam)

8. Bài xã luận từng được coi như lời hịch đăng trên báo Nhân dân với tựa đề « Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận » đã được nhạc sỹ Hồng Đăng mô phỏng hết sức sinh động bằng một ca khúc cùng tên. Không thể phủ nhận tính chất tuyên truyền và cổ động của tác phẩm này. Tuy nhiên, trong trường hợp này, chắc chắn sự rung động chân thành của tác giả đã bắt gặp cảm xúc và khí thế của cả dân tộc. Vì thế, ca khúc của Hồng Đăng đã trở thành một điểm nhấn giữa một biển ca khúc cùng thời. Đồng ca Đài Tiếng nói Việt Nam với giọng lĩnh xướng đanh thép nhưng thiết tha của Ngọc Tân và Vân Khánh đã thể hiện trọn vẹn nhất hào khí 40 thế kỷ của cả dân tộc :

« Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận. Hát tiếp bài ca chống giặc ngoại xâm. Bốn mươi thế kỷ đều căm giận. Kẻ thù phương Bắc không đội trời chung. Một dải non sông tha thiết yêu thương. Một tiếng nói chung chỉ một con đường. Lịch sử gọi ta xông lên phía trước. Sẽ viết trọn bài ca anh hùng cứu nước. »

Lịch sử bốn ngàn năm của đất nước đã được khơi dậy từ sự đồng thuận của cả dân tộc với ý chí Diên Hồng- ý chí Việt Nam. Ý chí đồng thuận của cả dân tộc đã chuyển hóa thành sức mạnh cho một cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực, giống như nhạc sỹ Lưu Hữu Phước đã viết :

« Cả nước hành quân theo Đảng ra chiến trường. Vì nước vì dân ta lên đường đi chiến đấu. Đèo cao đá Chi Lăng, vực sâu nước Bạch Đằng đang chờ quân giặc ở ngàn phương. Mỗi nhà là một pháo đài. Mỗi làng là một chiến khu. Năm mươi triệu dân cùng chung ý chí. Quyết đánh quân bành trướng. Quét hết lũ ngoại xâm. Thắng quân thù ta sướng vui ngàn năm. Ý chí Diên Hồng ý chí Việt Nam. » (Ý chí Diên Hồng- Đồng ca)

9. Các nhạc sỹ còn dõi theo những phản ứng của dư luận quốc tế trước cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Trung Quốc phát động chống Việt Nam. Trong mạch cảm xúc này, nhạc sỹ Phan Nhân đã viết :

« Khắp thế giới vang lên những lời hô : không được đụng đến Việt Nam- niềm tin kiêu hãnh của loài người yêu tự do. Bọn bành trướng hiếu chiến cút ra khỏi Việt Nam ngay ! Bọn bành trướng khát máu, cút ra khỏi Việt Nam. Khắp thế giới chung lưng với Việt Nam. Bao kẻ thù đã bại vong. Nay kẻ thù sẽ bại vong. Mùa xuân vĩnh viễn sẽ rực hồng trên biển Đông... » (Không được đụng đến Việt Nam, tiếng hát Kiều Hưng, Vân Khánh)

10. Vấp phải sự kháng cự ngoan cường của quân và dân Việt Nam, quân Trung Quốc đã phải rút khỏi Việt Nam. Và đó là lúc Việt Nam tuyên bố chiến thắng. Nhạc sỹ Nguyễn Đức Toàn viết :

« Vui sao vui sao tin chiến thắng dậy non sông. Đất nước vinh quang viết trang sử anh hùng. Ta đánh thắng bọn Bắc Kinh xâm lược. Vì độc lập tự do có bao con người hy sinh cứu nước. Bốn nghìn năm lại có hôm nay. Ông cha ta bao đời bất khuất. Một biên cương chống quân xâm lược. Ải Chi Lăng vẫn còn đây. Bạch Đằng Giang đang dậy sóng. Cho đến hôm nay chiến thắng vang lừng nước non này. » (Chiến thắng vinh quang, Đồng ca Đài)

còn nhạc sỹ Phạm Minh Tuấn viết về chiến thắng trên khắp dải biên cương như sau :

« Tiếng hát chiến thắng vút lên trên miền biên cương. Quảng Ninh, Hoàng Liên Sơn cùng Lai Châu, Đồng Đăng thắng lớn... Toàn dân Việt Nam ta, 50 triệu người là 50 triệu chiến sỹ. La la la ! Độc lập tự do ta yêu ta quý vô vàn. Hát vang bài ca chiến thắng, nức lòng ta quân tiên phong. » (Tiếng hát chiến thắng, tốp nam, Tiến Thành lĩnh xướng)

11. Các ca khúc của thời kỳ này còn có một đặc điểm chung là thường xuyên nhắc tới các địa danh từng ghi dấu những chiến công oai hùng trong lịch sử dân tộc như Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa, Diên Hồng. Bên cạnh đó, rất nhiều ca khúc thể hiện thái độ tấn công trực diện, gọi Trung Quốc là « bọn bành trướng dã man », « bọn Bắc Kinh xâm lược », « bọn hung nô », « kẻ thù không đội trời chung », « quân xâm lăng », « quân cướp Bắc Kinh » … Đây có lẽ là đặc điểm làm nên tính « nhạy cảm » sau này của hệ thống ca khúc chống bành trướng. Đặc điểm này cũng dẫn tới hiện tượng sửa lời bài hát cả trong và sau cuộc chiến. Chẳng hạn Phạm Tuyên viết « quân xâm lược bành trướng dã man » trong bản gốc, nhưng trong thời chiến nhiều người hát là « quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh ». Tương tự như vậy, Trần Tiến viết « đánh tan quân xâm lược dã man » thì nhiều người chuyển thành « quân xâm lược Bắc Kinh ». Ngược lại, sau này để tránh nói tới Trung Quốc trực tiếp như cách hát của Ngọc Tân trong bài Mẹ ơi con lên đường của Thuận Yến, « giặc Bắc Kinh kéo tới xâm lăng, gieo đau thương, tàn phá nơi biên thùy », ca sỹ Ngọc Đức (văn công không quân) đã chuyển lời thành « dù biên cương núi khuất mây che, con ra đi vì nước non mong chờ »...

12. Giá trị đặc biệt của nhiều ca khúc ra đời trong thời kỳ chiến tranh biên giới còn nằm ở chỗ chúng được viết từ cảm xúc xuất thần của các nhạc sỹ. Nếu như Phạm Tuyên đã từng xuất thần với « Như có Bác trong ngày vui đại thắng » khi cảm xúc của nhạc sỹ thăng hoa vào đúng ngày 30/4 thì lịch sử đã lặp lại vào ngày 17/2 khi ông cho ra đời « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới » (tên gọi dân gian của bài hát) với một nguồn xúc cảm tương tự. Có lẽ đây là bài hát được nhiều người nhắc đến nhất khi nói tới chiến tranh biên giới phía Bắc. Bài hát gần như gói gém tất cả suy nghĩ, cảm xúc và phản ứng của cả dân tộc Việt Nam khi ấy đối với hành động gây chiến của Trung Quốc. Nếu coi bài hát này là biểu tượng bằng âm nhạc về cuộc chiến chống bành trướng của người Việt Nam thì cũng không quá đáng. Bài hát có 2 bản thâu âm còn được giữ cho tới ngày nay. Một bản do nghệ sỹ Tiến Thành lĩnh xướng cùng với nghệ sỹ Bạch Kim. Một bản do đồng ca nam nữ Đài Tiếng nói Việt Nam thể hiện, được dàn dựng và thu thanh cùng thời điểm với « Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi » của Thanh Phúc.

Thực ra xét ở nhiều khía cạnh, CHIẾN ĐẤU VÌ ĐỘC LẬP TỰ DO chưa chắc là bài hát xuất sắc nhất của thời kỳ này. Chung mạch cảm xúc đó người ta còn thấy những ca khúc hoành tráng hơn và mạnh mẽ hơn, như « Bài ca biên giới anh hùng » của Nguyễn Đức Toàn, với những câu hát : « Mẹ ơi con lên đường » của Thuận Yến (Ngọc Tân hát), « Hãy cho tôi lên đường » của Hoàng Hiệp (Ái Vân hát), v.v. Nhưng có lẽ điều đặc biệt mà « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới » có được chính là thời điểm và cách thức nó ra đời. Được biết bài hát đã được phát đi trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam chỉ ít giờ đồng hồ sau khi quân Trung Quốc tràn vào bờ cõi nước ta. Thêm vào đó phải nói đến vai trò của nhạc sỹ Phạm Tuyên. Khi đó ông là trưởng ban biên tập âm nhạc của Đài, có vai trò lựa chọn, giới thiệu các bài hát. Bài hát này đã được sử dụng gần như nhạc hiệu sau các bản tin về chiến sự và các chương trình phát thanh quân đội.

13. Nghe những bài hát sáng tác trong thời kỳ này, người ta cũng sẽ có ấn tượng rằng chủ nghĩa lãng mạn cách mạng quả thực đã trở thành một dòng chảy liên tiếp từ hai cuộc kháng chiến thần thánh trước đó cho tới cuộc chiến chống bành trướng. Nếu như trong kháng chiến chống Mỹ đã có Bài ca Trường Sơn của Trần Chung với hình ảnh hết sức lãng mạn, gần như thoát ly khỏi thực tế nghiệt ngã và tàn khốc của chiến tranh (mà sau này có người ác ý hoặc ít hiểu biết về văn học cho là sự lừa dối) : «Trường Sơn ơi, trên đường ta qua không một dấu chân người, có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác » thì Nguyễn Đức Toàn đã mô tả không khí hành quân của các binh đoàn bộ binh trên đường ra biên giới như sau :

« Lên xe, lên xe, lên xe ta đi. Trông cây lúa chín dọc đồng quê. Nghe con sáo nó hót đầu ngọn tre. Tiếng súng vang vang trên khắp tuyến đường. Những chuyến xe ra tiền phương... »

Bằng giai điệu rộn ràng và phần hòa âm dựa trên nền accordeon giống như giai điệu của « Chào em cô gái Lam Hồng », người nghe được truyền một cảm giác lạc quan. Tiếng súng mà ngỡ như tiếng trống hội. Đi đánh giặc mà ngỡ như đi trảy hội...

14. Tình đồng đội, tình yêu lứa đôi, tình yêu tiền tuyến và hậu phương vẫn là nguồn cảm xúc không thể thiếu trong kho tàng ca khúc thời kỳ này. Những bản tình ca ra đời trên biên giới trên thực tế đã hòa mạnh nhất vào dòng chảy ca khúc của tân nhạc Việt Nam và trở thành những bản tình ca đi cùng năm tháng. Đó chính là « Tiếng đàn bên bờ sông biên giới » của Phạm tuyên mà trong suốt những năm 80 đã trở thành nhạc hiệu của chương trình ca nhạc trên đài truyền hình Việt Nam. Đó chính là « Chiều biên giới » của Trần Chung với « khi mùa đào hé nở, khi mùa gió sang cây, đôi ta cùng chiến hào, tình yêu là tiếng hát giữa đất trời quê hương » ; hay « bản tình ca đầu tiên ra đời trên biên giới là bản tình ca anh viết cho em » (Tình ca tuổi trẻ, Tôn Thất Lập). Tình tứ và sâu lắng hơn nữa phải kể đến « Tình ca mùa xuân » của Trần Hoàn với cặp song ca Thúy Lan và Phan Huấn : « Em ơi em mùa xuân đã về trên cánh lá, tiếng chim kêu ngọt quá cho trời xanh xanh thẳm ... mùa xuân biên giới súng anh gác trời xa ». Nổi tiếng nhất phải kể đến « Gửi em ở cuối Sông Hồng » được nhạc sỹ Thuận Yến viết phỏng theo thơ của Dương Soái. Bài hát xuất hiện lần đầu vào đầu năm 1980 với cặp song ca Tiến Thành và Thanh Hoa và ngay lập tức trở thành một tiết mục không thể thiếu trong bất kỳ một chương trình biểu diễn ca nhạc nào. Ngoài Tiến Thành, Thanh Hoa còn song ca rất thành công bài hát này với Ngọc Tân, Quang Lý...

15. Phong trào đặt lời mới cho dân ca cũng là mảng sáng tác phát triển mạnh thời kỳ này mà nội dung lời mới chủ yếu gắn với cuộc chiến bảo vệ biên giới. Cho tới nay nhiều khúc dân ca lời mới này vẫn được phổ biến. Tiêu biểu nhất phải kể đến « Chung lập chiến công» do Đức Miêng viết lời mới dựa trên dân ca quan họ, NSND Lê Dung hát (Anh gửi theo những cánh chim điệu dân ca, tới thăm anh nơi biên giới...). Đài Tiếng nói Việt Nam còn có riêng một chương trình ca nhạc phát sóng hàng ngày có tên « chương trình ca nhạc dành cho các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi biên giới và hải đảo »

16. Thời kỳ nào nền âm nhạc Việt Nam sản sinh ra các giọng ca vượt thời gian. Thời kỳ chống bành trướng cũng vậy. Nếu như nói tới thế hệ thứ nhất của tân nhạc cách mạng người ta nói tới Mai Khanh, Trần Thụ, Thương Huyền, Tân Nhân… ; thế hệ thứ hai với Quý Dương, Tường Vy, Bích Liên, Vũ Dậu…, thì thời kỳ chiến tranh chống bành trướng là thời kỳ của Tiến Thành, Thanh Hoa, Ái Vân, Ngọc Tân, Vân Khánh… Nếu thống kê lại, người ta sẽ thấy tiếng hát của Tiến Thành, Ngọc Tân, Vân Khánh xuất hiện ở hàng trăm ca khúc của thời kỳ này, nhất là nghệ sỹ Tiến Thành. Tiến Thành là ca sỹ lĩnh xướng hoặc nam ca sỹ hát song ca hầu hết các ca khúc của giai đoạn này. Vì thế, hoàn toàn không quá lời nếu ai đó nói Tiến Thành là « ca sỹ chống bành trướng ». Nhưng cũng chính vì thế nhiều người nói Tiến Thành ... thiệt thòi khi hầu hết các ca khúc ra đời trong thời kỳ này về sau không còn được phổ biến nữa.

17. Hai nước láng giềng xung đột với nhau vốn là điều không hy hữu trong lịch sử, nhưng bao giờ cũng là việc cực chẳng đã. Nhất là Việt Nam và Trung Quốc trong vài thập kỷ trước đó còn coi nhau « vừa là đồng chí, vừa là anh em », « môi hở răng lạnh ». Cũng trong âm nhạc, thì mối quan hệ hữu hảo đặc biệt lúc đó đã được hát rằng : « Việt Nam- Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị sáng như dòng sông ». Tình tứ, da diết và trong sáng hơn nữa phải kể tới mối tình Việt-Trung trong Mộc Miên Hoa của Huy Du, trong đó có đoạn : « Hồng Hà ơi, Dương Tử ơi đôi ta có mối tình trong sáng, mang theo phù sa tới bốn phương trời. Đây Hồ Chí Minh, đây Mao Trạch Đông, ngôi sao chỉ nam đời đời soi sáng đường chúng ta đi ... »

18. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả trong thời kỳ chiến tranh biên giới và những năm căng thẳng sau đó, Việt Nam và Trung Quốc chưa bao giờ cắt đứt quan hệ ngoại giao. Mỗi nước vẫn duy trì sứ quán của nước mình tại thủ đô nước kia. Mối quan hệ thù nghịch một cách công khai và chống phá nhau một cách toàn diện trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, tức là chiến tranh tổng lực, chiến tranh nhân dân, trên thực tế , có lúc lại chỉ được đơn giản hóa là một mối quan hệ không bình thường, thậm chí dư luận quốc tế cũng chỉ gọi chung chung là xung đột biên giới, các cuộc đụng độ ở biên giới (border skirmishes). Dù nói theo cách nào thì đó cũng là một mối quan hệ không bình thường và một giai đoạn lịch sử không bình thường.

19. Thiện chí muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc được nêu chính thức trong văn kiện của Đại hội Đổi mới của ĐCS VN, đại ý nói rằng Việt Nam sẵn sàng ngồi lại đàm phán với Trung Quốc ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ thời điểm nào và trên bất kỳ vấn đề gì nhằm tiến tới bình thường hóa quan hệ song phương. Tiếp sau đó, vào năm 1988, cùng năm Trung Quốc đưa tàu chiến tấn chiếm một phần Trường Sa, Việt Nam đã có một động thái hết sức quan trọng nhằm tiến tới một mối quan hệ bình thường giữa hai nước bằng việc sửa lại lời nói đầu của Hiến pháp 1980, không còn nêu Trung Quốc là « kẻ thù truyền kiếp không đội trời chung » nữa. Đi kèm theo nó, hai bên cũng thỏa thuận chấm dứt các hoạt động chống phá lẫn nhau trên cả mặt trận tư tưởng, văn hóa. Một trong những việc làm thực hiện thỏa thuận này của phía Việt Nam là việc gỡ bỏ phần trưng bày về chiến tranh chống bành trướng ra khỏi Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Tương tự như vậy, tất cả các tài liệu, ấn phẩm, các tác phẩm văn học, nghệ thuật tuyên truyền chống nhau đều CHẤM DỨT LƯU HÀNH . Và đó là lý do mà không ai còn nghe thấy từ làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt nam hay Đài truyền hình Việt Nam những câu hát như « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới nữa ». Được biết, Việt Nam và Mỹ gần đây cũng có thỏa thuận tương tự. Mà đã là thỏa thuận thì rất cần được tôn trọng.

20. Tuy nhiên, ở đây có ít nhất hai góc độ để nhìn nhận câu chuyện âm nhạc này, một là đối ngoại, hai là lịch sử dù rằng hai góc nhìn không có sự tách biệt tuyệt đối. Còn nhớ, trong một cuộc tọa đàm hẹp, nhà sử học Dương Trung Quốc đã nêu vấn đề chiến tranh biên giới với một lãnh đạo cao cấp của nước ta. Đồng chí lãnh đạo này, trong khi ghi nhận sự cần thiết phải đi đến cùng trong nghiên cứu khoa học lịch sử nhằm tiếp cận chân lý, vẫn khẳng định rằng trong chính trị, đối ngoại không phải điều gì cũng nên được phơi bày, nhất là vào thời điểm không thích hợp. Thiết nghĩ, đó cũng là sách lược hợp lý, tựa như cách « trong xưng bá, ngoài xưng vương » của cha ông ta ngày xưa.

Tuy nhiên, xử lý mối quan hệ giữa ngoại giao và lịch sử là cả một nghệ thuật. Điều đáng lưu ý là ranh giới giữa sự khéo léo, tinh tế, với dĩ hòa vi quý và sự nhu nhược là khá mong manh. Sự quá đà trong đòi hỏi về sự sòng phẳng trắng đen trong lịch sử có thể làm khó, thậm chí đổ vỡ cho các nỗ lực giao hảo. Nhưng đồng thời sự dĩ hòa vi quý sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí nguy hiểm một khi nó bị lạm dụng tới độ né tránh lịch sử, biến tất cả những sự thật của lịch sử thành những điều nhạy cảm và cấm kỵ. Khi ấy, thái độ đó sẽ đồng nghĩa với sự chối bỏ lịch sử, lảng tránh lịch sử, và theo thời gian nó gây ra hệ lụy biến cái chính nghĩa thành phi nghĩa.

TMH, tháng 2-2009

Wednesday, 7 January 2009

Chiếc ba lô và bài ca tình nguyện (January 07, 2009)



In memory of my two esteemed uncles who, like many comrades of theirs, laid down their lives in their twenties for our Fatherland's territorial integrity, for peace and for the revival of Cambodia.

Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Bài hát Chiếc ba lô và bài ca tình nguyện do nhạc sỹ Hoàng Tạo viết trong thời kỳ kẻ thù gây chiến tranh ở hai đầu biên giới của Tổ quốc chúng ta. Ngay từ khi mới ra đời, bài hát đã nổi tiếng với tiếng hát của Nghệ sỹ ưu tú Bích Việt, hát cùng Dàn nhạc Mùa thu do Nhạc sỹ Phú Quang phối khí và chỉ huy. Bài hát được thu thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam vào tháng 4/1979, thu cùng ngày với bài Hãy cho tôi lên đường của Hoàng Hiệp do Ái Vân hát.

Ngoài Bích Việt, chúng ta còn nhớ tới giọng hát hào sảng của Nghệ sỹ Quang Phác, hay giọng hát trong sáng, thiết tha của Nghệ sỹ Hà Vy.

Nghệ sỹ Bích Việt có cover lại bài hát này trong Album gần đây của cô, nhưng không thành công lắm do giọng hát của cô đã khô cứng, lại thêm phần hòa âm quá sơ sài.

img

img

img

img

Dẫu chỉ là hình ảnh biểu tượng...

---

CHIẾC BA LÔ VÀ BÀI CA TÌNH NGUYỆN

Sáng tác: Hoàng Tạo

.

Khi anh buộc gọn lại chiếc ba lô

Là khi con chim đậu cành gọi nắng xuân sang

Tiếng hót những gì mà ríu rít vui

Theo nhịp bước quân đi lấp lánh.

.

Ba lô nhẹ nhàng khẩu súng trong tay

Là bài ca tình nguyện vì Tổ quốc yêu thương

Chủ nghĩa Xã hội ngời sáng trong tim

Thôi thúc bài ca lên đường.

.

Cùng chiếc ba lô xinh mang theo kỷ niệm

Câu thơ tình yêu và lời hẹn ước lập chiến công với quê nhà.

Cùng những tháng năm biên giới nối biên giới

Chẳng còn được ngồi yên vì kẻ thù hòng gây đau thương lửa máu.

.

Gió đã nổi, tiếng thúc giục

Phải chặn tay bọn giặc

Từng tấc đất quê hương

Chẳng thể xa rời.

.

Bao la rộng dài Tổ quốc ta

Là trái tim nồng nàn người chiến sỹ

Gắn bó nghĩa tình cùng chiếc ba lô

Bao kỷ niệm ước mơ sáng

.

Ba lô nhẹ nhàng khẩu súng trong tay

Đời vui ta giản dị ngời sáng chiến công

Tiếng hô sẵn sàng lời chiếc ba lô

Lấp lánh màu lá xanh biên cương

Là dải quê hương ...

Wednesday, 20 August 2008

20082008 (August 20, 2008)



The best movie LOVE STORM soundtrack covered by Kenny Thái in Asia CD "Bão tình"

1. Bão tình- Nhạc chính trong phim Bão Tình- Sáng tác: Hoàng Trọng, ca sỹ Kenny Thái thể hiện lại

Bao tinh @ TMH - Kenny Thai

2. Trích đoạn phim Bão tình, starring Kiều Chinh, Hùng Cường. Khánh Ly thể hiện ca khúc.

Tuesday, 12 August 2008

Chợt nghe mùa thu... (August 13, 2008)



Xin còn gọi tên nhau- Trường Sa viết tặng Lệ Thu năm 1972- Giọng hát Lệ Thu trong Asia Video "Đêm Sài Gòn 1" (1992)

Bài viết của Nguyễn Xuân Hoàng (Đặc Trưng):

.....Không một dân tộc nào thiếu tiếng hát của riêng mình. Không một người nào thiếu tiếng hát của cá nhân mình. Tuổi trẻ chúng ta đi qua, nhưng những tiếng hát vẫn còn y nguyên trong những chiếc dĩa nhạc cũ kỹ của mỗi người.


Tôi nghĩ, đôi khi nỗi buồn trong âm nhạc cũng là một sức mạnh. Sự khốn cùng có thể làm người ta đứng dậy như nỗi đau tận cùng của một âm điệu cũng làm người ta vùng lên làm nên giông bão.

Trong ý nghĩ đó tôi muốn viết về một tiếng hát của tôi: Lệ Thu, một trong số ít tiếng hát không ngừng chinh phục người nghe.

Từ hơn ba thập niên qua, tiếng hát của cô mỗi lần cất lên đều khiến người nghe phải dừng lại. Tiếng hát trời cho ấy phát ra từ một trái tim và đi thẳng vào trái tim người nghe để trở thành kỷ niệm. Dù bài hát ấy được nghe ở một phòng trà giữa một Sài Gòn tưởng chừng như không có bóng dáng của chiến tranh, hay trong một nơi trú quân xa gần biên giới, tiếng hát ấy luôn mang theo cái không khí lãng mạn mà không bi thảm, buồn bã mà không sướt mướt.

Trong tiếng hát của cô, người nghe khám phá ra sự quyến rũ của âm thanh, sự sáng tạo của âm điệu và lòng tự tin. Tiếng hát của cô chuyên chở một hơi thở mới trong nhịp và nhấn, trong luyến láy và gợi cảm.


Lệ Thu hát say mê như thể quanh cô không còn ai ngoài cô và chính tiếng hát của mình. Cô không hát chỉ như một ca sĩ, cô hát như một nghệ sĩ.


Nghe Lệ Thu trình bày Tình Khúc Thứ Nhất của Vũ Thành An, hay Ngậm Ngùi của Phạm Duy, người nghe biết rằng sau cô, những tiếng hát khác sẽ không hát như thế, không hát được như thế.


Phát âm rất chuẩn, giọng vang và rõ, tiếng hát của Lệ Thu thoát ra từ một lồng ngực khỏe mạnh và một trái tim đam mê. Lệ Thu không hát từ cổ họng.


Chúng ta hiểu vì sao cô không nhận hát bất cứ một ca khúc nào. Cô chọn bài hát, cô đọc từng ca từ, cô dạo nhạc để nghe tiết tấu của âm điệu. Và cô hát trước hết vì cô yêu ca khúc cô đã chọn.


Ở Sài Gòn hồi đó, cái thời chiến tranh còn mấp mé ở ven biên, nhưng lựu đan cay đã "xuống đường" tràn ngập phố phường, vào một tối thứ Năm, qua chương trình Nhạc Chủ Đề do Nguyễn Đình Toàn phụ trách, tôi nghe Lệ Thu hát. Những tình khúc xót xa hay đam mê cất lên giữa một cuộc chiến buồn bã. Thời đất nước không có một niềm vui. Tiếng hát Lệ Thu, dù sao rất ngậm ngùi.


Trước Hạ Trắng, trước cả Lời Buồn Thánh, ca khúc Việt Nam đầu tiên mà Lệ Thu hát là Xin Mặt Trời Ngủ Yên của Trịnh Công Sơn. Chắc cô hiểu vì sao mình đã chọn ca khúc đó, tôi nghĩ như vậy.


Bước chân đầu đời dẫn cô nữ sinh Bùi thị Oanh, trường Les Lauriers đến gần chiếc micro ở nhà hàng Bồng Lai với bài Tà Áo Xanh năm 1960 thoáng chốc trở thành ca sĩ Lệ Thu của những ca khúc Serenade, Smoke Gets In Your Eyes, La Vie En Rose, Les Feuilles Mortes.....


Đó là thời gian Sài Gòn nổi lên các tiếng hát Bạch Yến, Bích Chiêu, những tiếng hát đã tạo cho mình một chỗ đứng riêng, nhưng Lệ Thu bằng nhân dáng và nhân cách của mình, cô đã vẽ được quanh cô một vầng sáng khác biệt. Tiếng hát của cô vượt lên một khoảng trời khác, như một ngôi sao giữa những ngôi sao, mà ánh sáng của nó thu hút ngay khi lần đầu ta nhìn thấy nó.


Lệ Thu trở thành ca sĩ đắt giá nhất trong những năm 70. Cái mức lương một triệu đồng một tháng khi cô hát cho phòng trà Tự Do của ông Cường là cái giá kỷ lục của một ca sĩ vào thời điểm đó. Trước đó, khi bước vào phòng trà Queen Bee của Jo Marcel, - và sau đó là Ritz - tiếng hát của cô đã làm Tiny Young - một giọng hát lẫy lừng từ Pháp sang phải gẫy hợp đồng trở lại Paris.


Đó là thời gian người ta khám phá ra một Lệ Thu đầy ấn tượng. Lệ Thu hoàn toàn làm chủ sân khấu của mình. Người nghe đòi hỏi tiếng hát của cô, phải có tiếng hát của cô. Và cô biết tại sao mình phải chọn ca khúc nào cho người nghe của mình.


Khác với Thái Thanh, tiếng hát gắn liền với nhạc Phạm Duy; hay Khánh Ly, gần gũi nhạc Trịnh Công Sơn, Lệ Thu không ngã về một nhạc sĩ nào. Cô hát những ca khúc cô yêu thích. Cái thế giới âm nhạc của cô rộng hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn. Cô hát nhạc Cung Tiến, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Trường Sa, Trần Trịnh, Đoàn Chuẩn - Từ Linh.....


Từ Ngậm Ngùi, Bên Cầu Biên Giới, Đường Em Đi, Lệ Đá, Hương Xưa, Tà Áo Xanh, đến... Nước Mắt Mùa Thu,... Lệ Thu như một người giữ bảo tàng những tình khúc của âm nhạc Việt Nam. Mặc dù cô khiêm tốn cho rằng những bài cô không chọn để hát không phải những bài ấy không hay, nhưng rõ ràng những ca khúc mà cô quyết định chọn trong nhạc lịch của mình, cô đã mang hơi thở cho đời sống của tác phẩm và tác giả. Phải nói những ca từ của một bài nhạc đã thu hút cô, trước khi âm điệu của nó quyến rũ cô.


Người ta không ngạc nhiên khi nghe cô trả lời phỏng vấn bằng ngôn ngữ trí tuệ.


Lệ Thu thuộc lớp ca sĩ kiểu như Juliette Greco của Pháp với những ca khúc như Sous Le Ciel de Paris, Je Hais Les Dimanches, Si Tu T'Imagines,... Cái khác là trong khi Juliette Greco với y phục toàn đen, đôi mắt đen, mái tóc dài đen, hát trong hầm tối, thì Lệ Thu tươi tắn hơn, hồng hào hơn, sống động hơn. Cô hát trong phòng trà nơi người ta đến để khiêu vũ, nhưng khi Lệ Thu cất tiếng, những điệu luân vũ đã ngừng lại. Người ta ngừng chân để lắng nghe cô hát.


Giờ đây đang bước vào một thiên niên kỷ mới, thế giới âm nhạc đã mang nhiều âm điệu mới, phong cách trình diễn cũng đã khác xa cái phong cách mà Lệ Thu trước đây từng chinh phục chúng ta. Người ca sĩ ngày nay mang theo hình ảnh một vũ công: tiếng hát của họ đòi hỏi một phối hợp nhịp nhàng với các động tác múa và đôi khi rất tuồng trên sân khấu. Người nghe bị chinh phục không phải chỉ bằng tiếng hát, mà bằng âm thanh, ánh sáng, màu sắc, và động tác.


Nhưng kỳ lạ thay, nghe Lệ Thu hát với một phong cách tĩnh như cách đây hàng mấy thập niên, người ta không thấy mình bị ép giữa những trang giấy cũ, những trang thư tình viết trên giấy kẻ với cây bút mực - mà tiếng hát ấy vang vọng lên như những tiếng động phát ra từ cái printer đặt dưới chân bàn.


Lệ Thu vẫn mới trong một phong cách điềm đạm. Trước đây, cô đã hát bằng hơi thở của thế hệ cô, liệu giờ đây giữa những cái mới trong nghệ thuật trình diễn, Lệ Thu có chinh phục được người nghe của thế hệ đương đại?

Dù sao với tôi, bao giờ cũng vậy, nghe Lệ Thu hát là một hạnh phúc. Hãy nghe cô hát, chúng ta sẽ thấy vì sao Lệ Thu không ngừng chinh phục chúng ta

Thursday, 31 July 2008

TIẾN THÀNH (August 01, 2008)



(Mu01b0u1ee3n cu1ea3m hu1ee9ng tu1eeb su1ef1 kiu1ec7n Hu00e0 Nu1ed9i mu1edf ru1ed9ng)

“Không ai là không thể thay thế, nhưng chắc chắn có những người khó thay thế hơn những người khác ».

Câu nói trên dường như rất chính xác để nói về Nghệ sỹ Tiến Thành (1950-1984), giọng hát chủ lực trong các chương trình ca nhạc trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, một viên ngọc sáng trong nền thanh nhạc Việt Nam kể từ cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Ngày nay, có thể nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ 8x, 9x không còn biết nhiều về cái tên Tiến Thành bởi người nghệ sỹ tài hoa ấy đã mãi mãi đi xa từ ngót một phần tư thế kỷ nay. Tuy vậy, một điều chắc chắn là bất kỳ ai, hễ có chút yêu mến, quan tâm tới dòng nhạc mà tạm gọi là nhạc Đỏ thì đều biết đến, thuộc nằm lòng, thậm chí say mê những bài hát như Nơi đảo xa (Thế Song), Tiếng gọi sông Đà (Trần Chung), chùm ca khúc của Hoàng Vân gồm các bài Tình yêu Hà Nội, Tình ca Tây Nguyên, Tình yêu người thợ mỏ, hay những ca khúc song ca kinh điển như Gửi em ở cuối sông Hồng (Dương Soái & Thuận Yến), Dòng sông quê anh dòng sông quê em (Lai Vu & Đoàn Bổng) ... Đó là một số trong rất nhiều ca khúc đi vào lòng thính giả và còn mãi với thời gian nhờ giọng hát « rất khó thay thế » của nghệ sỹ Tiến Thành.

Sinh năm 1950 tại Nam Định, Nghệ sỹ Tiến Thành là ca sỹ cùng thời với các nữ nghệ sỹ Lê Dung, Thu Hiền, Thanh Hoa, Ái Vân, Vân Khánh, Thúy Lan, Bích Việt ..., các nam nghệ sỹ như Ngọc Tân, Dương Minh Đức, Huy Hùng, Trọng Nghĩa, Hữu Nội..., là thế hệ tiếp nối của thế hệ thứ hai với những Tường Vy, Bích Liên, Tuyết Thanh, Vũ Dậu, Trung Kiên, Quý Dương, Trần Hiếu..., và xa hơn nữa là thế hệ đầu đàn với những Thương Huyền, Khánh Vân, Kim Oanh, Tân Nhân, Mai Khanh, Trần Thụ, Quốc Hương, Văn Hanh ... Nếu hệ thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai đã xây dựng nên những tượng đài của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam với những bản anh hùng ca và tình ca bất hủ trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc thì thế hệ ca sỹ thứ ba mà Tiến Thành là đại diện tiêu biểu là thế hệ kế thừa, phát huy những giá trị âm nhạc của của các thế hệ đi trước, đồng thời là thế hệ cất lên những tiếng hát ngợi ca non sông đã thu về một mối, tiếng hát của thời kỳ dựng xây lại đất nước với biết bao đam mê, kỳ vọng và cũng đầy rẫy những khó khăn thách thức lòng người.

Trong bài Đất nước, Tạ Hữu Yên viết Mẹ Việt Nam « ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ ». Rất có thể con số 3 và số 2 ở đây là những con số có tính tượng trưng vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc mình, Mẹ Việt Nam đã nhiều hơn ba lần tiễn con đi và cũng nhiều lần khóc thầm lặng lẽ. Nhưng nếu đó là hình ảnh Mẹ Việt Nam của thế kỷ 20 thì lần thứ 3 Mẹ khóc chính là lúc những đứa con của Mẹ phải ra đi để bảo vệ những miền biên ải ở hai đầu đất nước. Và nếu như thế hệ thứ nhất của Quốc Hương, Mai Khanh là thế hệ của Điện Biên, của 9 năm, thế hệ thứ hai của Bích Liên, Vũ Dậu, Trung Kiên là thế hệ của những « giải phóng quân xẻ dọc Trường Sơn» thì thế hệ nghệ sỹ thứ 3 của Tiến Thành chính là thế hệ cất tiếng hát và trưởng thành từ cuộc chiến đấu vì lý tưởng « độc lập, tự do » của cả dân tộc.

Ngày nay, bạn trẻ yêu nhạc cách mạng nào cũng có thể dễ dàng liệt kê hàng chục, thậm chí hàng trăm ca khúc ra đời trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng nếu có điều kiện nghe lại hoặc được cha anh kể chuyện các bạn cũng có thể kể ra cả trăm ca khúc ra đời giữa những ngày nóng bỏng nhất của « cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ ». Đó là những bản tráng ca cũng rực lửa hờn căm, ngập tràn hào khí như « Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới » (lời trong ca khúc của Phạm Tuyên), Đường lên biên giới (Lê Mây), Bài ca biên giới anh hùng, Chiến thắng vinh quang (Nguyễn Đức Toàn), Ý chí Diên Hồng (Lưu Hữu Phước), Không được đụng đến Việt Nam (Phan Nhân), Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận (Hồng Đăng), Bảy Núi (Hoàng Hiệp) ... đến những bản tình ca lay động lòng người như Gửi em ở cuối sông Hồng (Thuận Yến), Chiều biên giới (Trần Chung), Tình ca tuổi trẻ (Tôn Thất Lập), Tiếng đàn bên bờ sông biên giới (Phạm Tuyên)... Và có một điều hết sức đặc biệt là rất nhiều trong số hàng trăm ca khúc giai đoạn này đều gắn liền với tiếng hát của nghệ sỹ Tiến Thành. Tiến Thành là người lĩnh xướng hoặc nam ca sỹ hát song ca hầu hết các ca khúc của giai đoạn này. Vì thế, hoàn toàn không quá lời nếu ai đó nói Tiến Thành là « ca sỹ thế hệ chống bành trướng ». Nhưng cũng chính vì thế nhiều người nói Tiến Thành ... thiệt thòi bởi sau này, do điều kiện lịch sử, hầu hết các ca khúc ra đời trong thời kỳ này không còn được phổ biến nữa.

Là ca sỹ của Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam, cái nôi nuôi dưỡng lớp lớp các nghệ sỹ hàng đầu của Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, nếu theo cách nói tương đối mang tính phê phán hiện nay thì sẽ có người gọi Tiến Thành là một « công chức đi hát ». Bởi lẽ trong một thời kỳ mọi thứ đều được thực hiện theo kế hoạch, theo phân công công tác và đều được bao cấp từ vật chất đến tinh thần thì ngoài những cảm xúc xuất thần, vô tư, trong sáng và cao cả, thì cũng có cả những cảm xúc được tạo ra theo tem phiếu, theo lịch công tác và bảng chấm công, hoàn toàn đặc trưng cho một thời kỳ lịch sử. Nếu có dịp nghe lại các băng tư liệu của Tiến Thành, chúng ta sẽ không khỏi tủm tỉm cười khi nghe ca từ của những bài như « Mùa tôm gọi », « Em về hồ nuôi cá», « Nói với em về Đảng », « Đảng dệt mùa xuân » ...

Ở Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam, con đường ca hát chuyên nghiệp theo kiểu công chức của Tiến Thành không phải là con đường bằng phẳng ngay từ đầu. Trong những năm đầu (từ khoảng 1976 đến 1978) Tiến Thành hầu như chỉ được đứng trong dàn đồng ca, hợp xướng. Phải từ năm 1979-80 người ta mới thấy Tiến Thành hát lĩnh xướng và song ca, rồi mới đến đơn ca. Đặc biệt, những năm đầu 80, các bạn nhỏ cả nước không thể quên giọng nói và tiếng hát của thầy giáo Tiến Thành trong các chương trình dạy nhạc, dạy hát trên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Nghe Tiến Thành hát từ những bản tráng ca, lĩnh xướng trong dàn hợp xướng, với dàn nhạc giao hưởng, những bản tình ca hát cùng dàn nhạc nhẹ, cho đến những « ngành ca, địa phương ca » thuần túy theo phân công công tác, người ta đều cảm nhận được một giọng hát hết chỉn chu, chuẩn mực có nền tảng thanh nhạc vững chắc. Tiến Thành có làn hơi khỏe, chắc, đầy đặn, âm vực rộng. Có những nghệ sỹ mà đẳng cấp của họ thể hiện ở khả năng chuyển giọng, có kỹ thuật vững vàng nhưng lại không bị gò bó bởi kỹ thuật. Ở các nữ nghệ sỹ thì Lê Dung là một trường hợp điển hình. Còn Tiến Thành là trường hợp điển hình trong các nam nghệ sỹ. Tiến Thành có thể hát hết sức kinh viện trong Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Hồ Chí Minh giai điệu bốn mùa (Trần Chung),Lá xanh (Hoàng Việt). Nhưng rồi Tiến Thành ngay lập tức lại có thể thiết tha, nồng nàn, trải rộng cảm xúc đến độ mênh mang như sóng biển như trong bài Nơi đảo xa (Thế Song), Hát cùng trời nước Hạ Long (Tân Huyền).... Giọng Tiến Thành đằm thắm, nồng đượm trong các bản tình ca như Hương thầm (nhạc Thanh Phúc, thơ Phan thị Thanh Nhàn), Tình yêu Hà Nội (Hoàng Vân). Rồi Tiến Thành lại rất sôi nổi, trẻ trung trong những ca khúc nhạc nhẹ như Hà Nội những công trình (Quốc Trường), Tình yêu người thợ mỏ (Hoàng Vân). Tiến Thành còn hát rất nhiều làn điệu dân ca của các vùng miền khác nhau. Tiến Thành hát quan họ đặc biệt hay. Thỏa nỗi nhớ mong mà ông song ca cùng liền chị Thanh Hiếu là một làn điệu quan họ mẫu mực.

Để thành công trong xử lý ca khúc, ngoài giọng hát, điều tối quan trọng là nghệ sỹ có khả năng tiết chế cảm xúc và tạo ra những mảng sắc thái khác nhau (nuance) giữa các phần của một ca khúc, thắt, mở, cao trào... Tiến Thành hết sức xuất sắc trong việc làm này, khiến người nghe luôn giữ được cảm giác hào hứng khi đón nhận những bài hát do nghệ sỹ này thể hiện. Đặc biệt, Tiến Thành có thể hát bằng cả giọng tenor (nam cao) rất hùng tráng, khoáng đạt hoặc baritone (nam trung) rất đằm thắm, êm ái . Ở cả hai giọng Tiến Thành đều mang đến cho người nghe cảm giác về một giọng hát hết sức vừa vặn với từng ca khúc. Tiến Thành cũng hát giả thanh (fausette) rất hoàn hảo. Đây là một kỹ thuật khó trong thanh nhạc đối với nam ca sỹ vì nếu không xử lý tốt giọng sẽ bị biến thành « giọng mái ». Tựu chung lại, những người yêu ca hát cảm nhận ở Tiến Thành không chỉ một giọng hát đẹp, có sức truyền cảm đặt biệt mà còn ở cảm xúc lãng mạn, tinh khôi. Tuy vậy, ở một số ca khúc, Tiến Thành cũng thể hiện một ‘tật’ nhỏ đó là việc dồn hơi lên mũi hơi sớm ở cuối câu hát, tạo ra cảm giác « hát đóng âm cuối ». Nhưng nhiều người lại coi đó là nét đặc biệt của Tiến Thành.

...

Một ngày cuối năm 1984, công chúng yêu văn nghệ bàng hoàng hay tin về một vụ tai nạn giao thông thảm khốc mà nạn nhân là các nghệ sỹ của Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam đi trên một chiếc xe ca trên đường lưu diễn phục vụ đồng bào tại một địa phương phía Bắc. Nghệ sỹ hát Chèo lừng danh Như Hoa đã qua đời ngay khi chiếc xe nạn. Nghệ sỹ Thúy Lan khi đó bị bất tỉnh. Những người chứng kiến vụ tai nạn thấy Nghệ sỹ Tiến Thành tuy bị thương nhưng vẫn rất cố gắng đỡ các bạn đồng nghiệp bị thương lên băng-ca đi cấp cứu. Tuy nhiên chỉ sau đó vài giờ, Tiến Thành đã quỵ xuống và rồi người nghệ sỹ ấy đã ra đi mãi mãi... « Người nghệ sỹ lãng mạn ấy đã vĩnh biệt chúng ta quá sớm... Anh để lại nỗi tiếc thương vô hạn trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và nhưng người yêu ca hát » (Dihavina). Chắc chắn còn quá nhiều kế hoạch Tiến Thành chưa kịp thực hiện và những người yêu ca hát hoàn toàn có quyền nói về nhiều tốt lành cho nền âm nhạc nước nhà mà Tiến Thành có thể còn tiếp tục cống hiến « giá như, giá như, và giá như »...

Cũng may, năm 1984 là năm kỷ niệm 30 giải phóng thủ đô, Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức remix và phát động sáng tác hàng các ca khúc mới về Hà Nội. Những tác phẩm cuối của Tiến Thành, có thể vì lý do đó hoăc có thể hoàn toàn ngẫu nhiên, đều là các bài hát về Hà Nội. Và như thường lệ, Tiến Thành lại trở thành người hát nhiều nhất và hay nhất về Hà Nội thời kỳ đó với Người Hà Nội (hát cùng Tuyết Nhung và Hợp xướng Đài) ; Tình yêu Hà Nội (Hoàng Vân-hai versions với hai cách phối khí khác nhau) ; Hà Nội bài ca năm tháng (Cát Vận) ; Hà Nội những công trình (Quốc Trường, lĩnh xướng cùng Thúy Lan) ; Hà Nội những tầng cao (Văn An, song ca cùng Quỳnh Liên) ... Cho đến nay các ca khúc này đã được nhiều ca sỹ thể hiện lại với nhiều phong cách khác nhau nhưng với nhiều người bản Người Hà Nội do Tiến Thành thể hiện là bản hay nhất từ xưa đến nay. Còn Tình yêu Hà Nội thì đúng là tác phẩm mà Hoàng Vân viết riêng cho Tiến Thành. Và như thế, Tiến Thành còn được coi là một « Người Hà Nội » đích thực.

Tiến Thành ra đi để lại gần 300 ca khúc thuộc nhiều thể loại hiện còn lưu trữ trong Đài Tiếng nói Việt Nam cũng như bộ sưu tập cá nhân của nhiều người mộ điệu. Nhưng người nghệ sỹ ấy cũng để lại một khoảng trống không dễ bù lấp trong lớp đồng nghiệp cùng thời và cả những lớp sau đó. Có lẽ thanh nhạc là như vậy, dù cho có khuôn mẫu, có bàn bản, thì đây vẫn chủ yếu là thứ nghệ thuật gần như vô hình của làn hơi, của âm thanh, của cảm xúc mà trời cho người này nhưng chẳng cho người khác, thậm chí cho một lần và không bao giờ cho lại, cũng giống như người ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông vậy. Sau này bạn yêu nhạc thấy Trung Đức hát lại nhiều bài hát Tiến Thành đã thể hiện, cũng rất thành công nhưng vẫn là Trung Đức mà không phải là Tiến Thành. Trong số các ca sỹ trẻ thì Trọng Tấn cũng hát nhiều ca khúc gắn với tên tuổi của Tiến Thành và cũng được thính giả đón nhận nồng nhiệt. Nhưng Trọng Tấn khác xa Tiến Thành vì nhiều lẽ. Gần đây, trong giải Sao Mai 2007, giới chuyên môn cũng liên hệ giọng hát của quán quân Lê Anh Dũng với Tiến Thành. Họ thật có lý. Tuy nhiên, những sự liên hệ như vậy cũng chỉ để khẳng định thêm một lần và nhiều lần khác nữa, rằng « có những người khó thay thế hơn những người khác ».

(TMH, 1-8-2008)

Friday, 15 February 2008

Propaganda (February 16, 2008)



Propaganda has been defined as "a message designed to influence - aimed at persuading a group or individual to behave or think in a certain way". The era of total war, with whole populations mobilised for action, has seen propaganda become as important as any other weapon. The public's appetite for information is fed by increasingly pervasive and sophisticated news media - but at the same time governments have seen that appetite as something to be controlled or guided, to try to ensure that public opinion marches in step with the aims of those who are providing the information.

Since the mid-19th Century, an ever wider range of media has been used to deliver both 'news' and 'propaganda' messages. New technologies such as photography, film, sound amplification and radio - and later television and the internet - have quickly been adopted by both the official and the unofficial propagandist. "Old" technologies also remain in use alongside new comers. In the 21st Century, information and propaganda are still disseminated by means of public speeches by well-known figures, through newspapers, and by means of the poster and the leaflet - and the tradition of the war artist survives alongside that of the war correspondent.

img


Propaganda campaigns will try to shape attitudes in a number of ways. One popular device is the use of caricature or comedy. This serves both to lift the spirits of its own side ('laughter is the best medicine') and to make the enemy seem ridiculous, and therefore less threatening. A careful balance has to be struck in such campaigns, however - enemies must not seem laughable to the point where the audience stops taking them seriously.


Avoiding any risk of not taking the enemy seriously are campaigns which set out to dehumanise the foe, to portray them as evil or criminal, enemies who must be feared or loathed, beasts who must be crushed. Even this kind of campaign can backfire, however - when one piece of negative propaganda is discredited, then similar stories may not be believed, even when they are true. It is widely thought that an element in people's reluctance to give credence to early reports about the Holocaust was their memory of being led to believe exaggerated or unfounded allegations of 'Hun' atrocities in the First World War.


The will to fight can also be reinforced by positive campaigns - those designed to explain what is good about one particular position, which can be much more than just 'our' opposition to 'them'. Reasons given for 'Why We Fight' can include explanations of the need to resist aggression and to defend the rights of the oppressed, but they tend also to dwell on the values, the culture, the very land of the nation at war - and of its allies. Such propaganda can often suggest that everything is perfect in the mother- or fatherland but more sophisticated campaigns will also appropriate the war to domestic causes. For the British, the Second World War became not only a war to defeat fascism and aggression, but also a war fought to help build a 'better' society within the United Kingdom.

img



Besides visions of the post-war world, inspiration can be offered to the targets of propaganda by building up heroes and the development of myths. Totalitarian regimes make icons of their leaders - Mussolini, Hitler and Stalin all featured in such roles in the mid-20th Century. But an inspirational example, a tragic martyr, or a popular figurehead can all provide a role model or focus for the attentions of the general public in all kinds of societies - figures such as Lawrence of Arabia, Edith Cavell, or 'The Red Baron' in the First World War, and Orde Wingate, Churchill and Montgomery in the Second have all been used in this way in propaganda. The faintly supernatural aura that attached to the hero-figure can be found still more strongly in the promotion of myths, which can be specific or generalised ('Russians with snow on their boots' or the 'Spirit of the Blitz'), positive or negative (the 'Angels of Mons' and the 'Protocols of the Elders of Zion').

As well as addressing the domestic audience, propaganda is aimed at allies in other nations (for example, the Commonwealth and Dominions in the case of Britain, its Axis partners in the case of Nazi Germany) to emphasise the bond of commitment, sacrifice and achievement. The enemy themselves may be targeted by what is commonly known as 'black propaganda' using such means as leaflet drops and radio broadcasts to lower morale and encourage surrender. Another important audience is the population of neutral states, whose sympathy and support must be encouraged, and who must be persuaded not to accept the enemy's view of events. In this sense, one of the most important targets for British propaganda both before April 1917 in the First World War and before December 7th 1941 in the Second World War, was the United States.

img

'Propaganda' is commonly used as a purely negative term - indeed, some people will always maintain that only the enemy issued 'propaganda' while our side gives out 'truth' and 'information'. The term is, however, quite neutral in origin. Its first use is commonly attributed to the creation by Pope Gregory XV of a 'Sacred Congregation de Propaganda Fide (for the propagation of the faith)' in 1622. The Museum's collections contain many examples of propaganda whose purpose is entirely benign - campaigns to improve dietary or health awareness, for example, or working for better living conditions.


In spite of the qualification just made, 'propaganda' remains a term most usually linked to the manipulation and distortion of truth. Its close ally, particularly in times of war and the fear of war, or of political repression, is censorship - the suppression of unwelcome news, the control of militarily sensitive information, and the containment of potentially unsettling opinions.

Source: http://www.iwmcollections.org.uk/truth/essay.asp#top

Monday, 14 January 2008

DVD Một thời & Mãi mãi (January 14, 2008)



1. NSND Lê Dung & solo Du kích sông Thao- Live Concert

2. NSND Lê Dung & NSND Quang Thọ & duo Du kích sông Thao

NSND Quang Thọ: "Một thời và mãi mãi" với cố NSND Lê Dung
Thứ hai, 14/1/2008, 09:20 GMT+7
Kỷ niệm 50 năm Hội Nhạc sỹ Việt Nam, đĩa nhạc giới thiệu hai giọng hát opera thính phòng: NSND Quang Thọ và cố NSND Lê Dung - một chương trình được thu trực tiếp, đã được gửi tới các thế hệ nhạc sỹ của Hội. Đây là đêm diễn chung cuối cùng của hai nghệ sỹ này. Hai nghệ sỹ vùng mỏ này đã đồng hành suốt nhiều thập kỷ, tạo nên những dấu ấn mãi mãi với thời gian...

img
NSND Quang Thọ và cố NSND Lê Dung.

Nhớ về những ngày tháng đó, NSND Quang Thọ thực sự xúc động:

- Năm1994, anh em tôi thực hiện chương trình "Một thời và mãi mãi", đây là một trong những live show đầu tiên tại Việt Nam và mùa đông năm đó được biểu diễn tại Paris. Còn nhiều đêm nhạc khá của hai anh em tại TPHCM, Hạ Long và đêm diễn cuối năm 1999 là đêm diễn cuối cùng.

Tất cả đã được ghi lại. Có thể nói đó là sự giao cảm gần như là tuyệt đỉnh nhất trong việc biểu diễn chung giữa tôi và Dung cùng với Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam dưới sự chỉ huy của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân. Với nhiều người làm nghề, đây là chương trình giao hưởng thính phòng lớn và thành công nhất từ trước đến nay. Dung hát say sưa, cuồng nhiệt.

Và đó cũng là tính cách của cô ấy trong cuộc sống. Khi Dung bước vào những ngày nguy cấp, tôi đang ở Paris, nhưng được vợ thông báo tin tức từng giờ. Gia đình tôi với Lê Dung như anh em trong nhà, Dung bị tai biến là vợ tôi đưa cô ấy vào viện. Nhưng rồi Dung không ở lại được.

Tôi gửi một lời điếu từ Paris về để tiễn đưa Dung. Rất nhiều dự định lớn trong cuộc đời âm nhạc Dung bỏ dở. Và rất nhiều học sinh Dung đang trực tiếp giảng dạy cũng phải bỏ lại. Mất mát thực sự cho thanh nhạc khi Lê Dung không còn cất tiếng hát nữa. Nhưng đó là định mệnh, là số phận.

- Mỗi khi nghe lại những bản thu âm cũ, có bao giờ anh nghĩ rằng, nếu được hát lại thì hai người sẽ còn hát hay hơn nữa?

- Âm nhạc không phải là sự làm lại mà là sự thăng hoa cảm xúc. Có những khoảnh khắc duy nhất rồi lụi tắt mãi mãi. Thế nên đời mình hát hàng ngàn lần một ca khúc, nhưng mỗi lần hát lại một lần cảm xúc không nhàm cũ.

- Anh có tin vào định mệnh không? Còn tôi thì tin. Như anh và chị Lê Dung, hai người cùng đến từ vùng mỏ, cùng hát hết mình. Nhưng chị Lê Dung đến sau, tỏa sáng rực rỡ, đạt được nhiều thành tựu nhanh hơn anh. Và rồi đột ngột ra đi vào lúc không ngờ nhất. Còn anh, mọi chuyện đến từ từ và rồi đến giờ, anh vẫn may mắn được hát với công chúng của mình trên sân khấu...

img
Bìa DVD Tiếng hát Lê Dung - Quang Thọ.

- Cái đó cũng đúng. Dung may mắn hơn tôi, đạt được những thành công lớn ở những cuộc thi hát chính thống về opera trên thế giới như Concourt Traiskopski, được đóng vai chính trong vở opera lừng danh của thế giới. Còn tôi thì thành công không vang dội như thế. Có lẽ Dung là một ca sỹ luôn dồn hết sức mình cho từng ca khúc. Và cô bộc lộ mình trọn vẹn trong những ca khúc ấy, không giữ lại gì làm của riêng.

Khi cô ấy mất, tôi thấy, rất lâu sau người ta chưa tìm ra một giọng ca đẹp nhường vậy. Tôi được may mắn sống nhiều hơn nên hát được nhiều hơn. Nhưng chính vì cái "đặc ân" của cuộc sống này, mà mình biết mình cần phải tâm huyết hơn và hát hết mình hơn...

- Điều đầu tiên và sau cùng khi anh nghĩ về người bạn diễn này?

- Đó là những kỷ niệm. Cuối năm 1967, khi Mỹ bắn phá Quảng Ninh, có rất nhiều cuộc biểu diễn ở những nơi sơ tán, trong hầm mỏ. Tôi hơn Dung 4 tuổi, khi tôi là ca sỹ vùng mỏ thì cô ấy mới đang học lớp 9, nhưng đã bắt đầu theo chúng tôi đi diễn. Hồi đó chúng tôi đi bộ là chính, hai chục cây số là chuyện thường. May lắm mới có xe đạp.

Có lần tôi chở Dung đi diễn, xa nhà mấy chục cây số. Đi dọc đường, đến Nhà máy điện cọc 5 thì bị một trận oanh tạc, vội vàng nhảy xuống hầm, xe đạp bị bom cày nát. Tôi vác chiếc xe đạp nát và hai anh em đi bộ suốt đêm về nhà. Đó là kỷ niệm không bao giờ quên giữa hai anh em.

Ngày đó chúng tôi đi hát vì yêu thích và được phục vụ công nhân mỏ thế thôi chứ không nghĩ mình sẽ theo con đường này, cũng không nghĩ mình phải trở thành người nổi tiếng. Nhưng rồi mỗi đứa đi một hành trình khác nhau, rồi gặp nhau trong từng thời điểm của sự nghiệp. Dung và tiếng hát trong trẻo của cô ấy là điều không chỉ tôi mà nhiều người yêu nhạc Việt Nam luôn nhớ đến.

- Anh có cho rằng, theo dòng nhạc cổ điển - thính phòng để được thành công như NSND Quang Thọ là con đường khổ nạn và hiếm hoi? Và phải chăng nhạc cổ điển - thính phòng không thực sự phù hợp với số đông công chúng Việt Nam?

- Thành công nào cũng khó khăn cả. Tôi đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm mới có được một chút thành quả. Thời gian qua, các phương tiện truyền thông phát triển ồ ạt và họ phần nào đó tuyên truyền quá rầm rộ dòng nhạc trẻ và tuyên dương những gương mặt nghệ sỹ của dòng nhạc ấy khiến nhiều người cho rằng nhạc cổ điển - thính phòng không có chỗ đứng trong lòng khán giả.

Thực ra không phải vậy. Chỉ có cái nào ồn ào hơn mà thôi. Các ngôi sao nhạc nhẹ thường nổi rất nhanh nhưng họ cũng phải chạy đua với thời gian trước khi bị... thay thế bởi một gương mặt khác và tuổi thọ nghề rất ngắn. Còn các nghệ sỹ opera - thính phòng thì hát dài hơi hơn, đến với công chúng cũng bình tĩnh hơn.

- Nhưng chính anh cũng được biết đến nhiều ở những bài hát chính ca, chứ đâu phải những vở opera? Anh có nghĩ rằng, nếu dũng cảm theo opera thì phải biết chấp nhận nghèo và thậm chí là... vô danh trong nhiều năm?

- Tôi hát nhiều thể loại nhưng đúng là khán giả nhớ tới mình nhiều từ những bản chính ca hào hùng. Nhưng nghệ sỹ hát dòng cổ điển thính phòng họ cũng không đến mức vất vả như anh nói. Trọng Tấn là một ví dụ. Anh ấy có những thứ hạng cao nhất trong các cuộc thi hát. Anh ấy có lượng khán giả riêng của mình. Và anh ấy không nghèo...

- Anh hát cả ngàn ca khúc, anh dạy mấy trăm học trò, sự nghiệp ấy là một con đường không ngắn và không dễ dàng. Có khi nào anh nghĩ mình sẽ làm một con đường âm nhạc, như một tuyển tập riêng?

- Năm 2007 tính ra tôi cũng làm được nhiều việc, làm được đêm nhạc riêng, phát hành được đĩa nhạc, ra đĩa chung được với Lê Dung, rồi tham dự nhiều chương trình lớn. Năm 2008, tôi bước vào tuổi 60, cũng là năm tôi nghĩ có nhiều kỷ niệm. Tôi sẽ phát hành bộ 5 DVD tiếng hát Quang Thọ và 5 CD những ca khúc gắn liền với tên tuổi của mình. Và sau Tết Nguyên đán Mậu Tý, tôi và một số anh em sẽ cùng lên kế hoạch phát hành trở lại những ca khúc do Lê Dung hát dưới nhiều hình thức. Tiếng hát ấy không bao giờ có thể bị lãng quên.

- Cảm ơn NSND Quang Thọ!